banner
Vậy luật kinh doanh là gì?

Bạn đã biết luật kinh doanh là gì?

Là một doanh nghiệp bạn nên hiểu thế nào là luật kinh doanh để đưa vào vận hành, tránh vướng phải một số luật không đáng. Luật kinh doanh là gì mà bất kì một doanh nghiệp nào cũng nên nắm rõ? Là một nhánh trong của pháp luật kinh, một kiến thức rất cần thiết cho những người hoạt động kinh doanh.

Vậy luật kinh doanh là gì?

Vậy luật kinh doanh là gì?

Luật kinh doanh là nội dung chưa 02 vấn đề pháp lý cơ bản: pháp luật về hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh
Những vấn đề trong nội dung của luật kinh doanh là gì? Có thể nói nôm na giống như nội dung của luật kinh tế nhưng lại khác về cách thức, mức độ can thiệp (quản lý) của nhà nước bằng pháp luật đối với các hoạt động kinh doanh qua từng giai đoạn của mỗi nền kinh tế.

Tóm lại, có thể hiểu luật này là phần tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và chịu sự quản lý của Nhà nước.

Vai trò của luật kinh doanh là gì trong nền kinh tế?

Ngày nay, các việc tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh cũng như các quyền năng động sáng tạo trên thị trường dễ dẫn đến các hiện tượng tiêu cực như thiếu sự trung thực, thiếu tính lành mạnh trong cạnh tranh,…

Nên rất cần sự quản lý của nhà nước trên cơ sở pháp luật, nhất là Luật kinh doanh đối với toàn bộ nền kinh tế, giữ vai trò hết sức quan trọng được thể hiện như sau:

  • Để có thể đồng bộ hóa và mang tính công bằng giữa các chủ thể thì Nhà nước đã thông qua Luật kinh doanh mà thể chế hóa các đường lối, chủ trương, chính sách kinh tế của Đảng thành các quy định bắt buộc .
  • Luật kinh doanh góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bằng cách tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào kinh doanh, làm tăng vốn kinh doanh, mở rộng thị trường .
  • Với cơ sở pháp lý là Luật kinh doanh đã giúp các chủ thể kinh doanh xác định được địa vị pháp lý với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trực thuộc.
  • Các hành vi kinh doanh của các chủ thể kinh doanh đã được kiểm soát bởi Luật kinh doanh, đã đảm bảo các hoạt động kinh doanh được diễn ra một cách lành mạnh.
  • Luật kinh doanh quy định các vấn đề tài phán trong kinh doanh, quy định trình tự, thủ tục, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh vừa bảo đảm được quyền tự định đoạt của các chủ thể kinh doanh vừa đảm bảo nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa.
  • Luật kinh doanh quy định điều kiện và trình tự thủ tục giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và các bên có liên quan; thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế và trật tự xã hội.

Đó phải chủ thể thuộc sự quản lý của Luật kinh doanh

Luật kinh doanh có một hệ thống chủ thể riêng, bao gồm là những cơ quan, tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện như sau:

Đối với cơ quan, tổ chức:

  • Phải được thành lập hợp pháp: khi đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, cấp giấy phép đầu tư hoặc cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động cho những cơ quan, tổ chức thì được coi là thành lập hợp pháp .
  • Phải có tài sản riêng: để tham gia vào các quan hệ kinh tế, cơ quan tổ chức phải có tài sản riêng, đồng thời có quyền chi phối khối lượng tài sản đó để có thể tự chịu trách nhiệm độc lập về tài sản trong hoạt động của mình. Quyền chi phối tài sản riêng của tổ chức hoặc cá nhân thường thể hiện dưới hình thức quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản.
  • Phải có thẩm quyền kinh tế: thẩm quyền kinh tế là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ về kinh tế được pháp luật ghi nhận hoặc công nhận. Thẩm quyền kinh tế của chủ thể luôn phải tương ứng với chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của nó. Vì vậy, trên thực tế các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ cụ thể không hoàn toàn giống nhau.

Đối với cá nhân:

Đối với cá nhân

  • Phải có năng lực hành vi dân sự hoàn toàn: năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Điều đó có nghĩa là cá nhân có khả năng nhận thức được hành vi của mình và tự chịu trách nhiệm về hành vi đó. Pháp luật nước ta quy định, người đủ 18 tuổi trở lên không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức hành vi của mình là có đủ năng lực hành vi dân sự.
  • Có giấy phép hoạt động và đã đăng ký kinh doanh hoặc được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: cá nhân có năng lực hành vi dân sự chỉ mới là điều kiện cần. Để trở thành chủ thể kinh doanh, phần lớn các cá nhân còn phải xin phép hoặc đăng ký kinh doanh (tùy theo ngành nghề kinh doanh) ở các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chỉ sau khi được cấp giấy phép kinh doanh và đã đăng ký kinh doanh, cá nhân mới có năng lực pháp luật trong quan hệ Luật kinh doanh, có quyền hoạt động kinh doanh và khi đó mới trở thành chủ thể.

Là một nhà kinh doanh bạn không thể không nắm rõ luật kinh doanh là gì, những kiến thức này cần được nâng cao hơn nếu cần một sự đảm bảo hoặc bạn có thể tìm đến sự tư vấn của luật sư.